Grade

Đề thi tham khảo học kì 1 Văn 10 - Đề số 2

7 câu hỏi ngữ văn lớp 10, bám cấu trúc đề cuối học kì 1. Chấm ngay khi nộp trên thang điểm 10, xem được đáp án từng câu sau đó.

Ngữ vănLớp 10Luyện tập7 câu90 phútQuản trị viên
Bắt đầu làm bàiTải đề PDFMiễn phí · chấm tự động ngay khi nộp
Chia sẻ

Toàn bộ câu hỏi của đề. Đáp án và lời giải hiện sau khi bạn làm bài.

  1. 1Tự luận · Nhận biết

    Đọc văn bản sau:

    (Tóm tắt vở kịch: Trương Viên quê đất Võ Lăng, nhờ mẹ sang hỏi cưới Thị Phương, người con gái của Tể tướng đã hồi hưu. Thấy chàng học giỏi, cha Thị Phương đồng ý và cho đôi ngọc lưu ly làm của hồi môn. Giữa lúc chàng đang dùi mài kinh sử thì được chiếu đòi đi dẹp giặc, chàng từ biệt mẹ già, vợ trẻ để ra chiến trường. Trong cảnh chạy giặc, Thị Phương đã dắt mẹ chồng lưu lạc suốt mười tám năm. Hai người bị quỷ dữ trong rừng sâu đòi ăn thịt, song may nhờ người vợ quỷ nhận làm chị em xin tha rồi cho vàng. Tiếp đó họ lại bị hổ dữ đòi ăn thịt. Thị Phương tình nguyện dâng miếng thịt nơi cánh tay để cứu mẹ chồng. Hổ tha mạng cho cả hai mẹ con. Mẹ ốm, nàng dâng đôi mắt mình để Sơn Thần làm thuốc chữa cho mẹ. Cảm động trước tấm lòng của Thị Phương, Ngọc Hoàng sai Chúa Tiên xuống dạy nàng nghề đàn hát. Thắng trận trở về, Trương Viên được phong quan. Chàng trở về quê cũ tìm mẹ già và vợ nhưng không thấy. Rồi chàng gặp hai mẹ con bà hát xẩm, bèn mời họ vào phủ để hát cho mình nghe. Qua bài trần tình, chàng đã nhận ra mẹ và vợ. Nhờ ngọc lưu ly, đôi mắt của Thị Phương sáng lại như xưa, gia đình được đoàn tụ sum vầy).

    THỊ PHƯƠNG (hát trần tình): - Trương Viên, Trương Viên

    Người chồng tôi tên gọi Trương Viên

    Vua sai dẹp giặc nước Xiêm khơi chừng

    Bởi vì đâu chếch nón ả Hằng

    Thờ chồng giữ tiết khăng khăng chẳng rời

    Bởi vì đâu binh lửa tơi bời

    Xa miền quê quán, ngụ nơi lâm tuyền

    Một mình tôi nuôi mẹ truân chuyên

    Quyết liều phận bạc chẳng dám quên nghĩa chàng

    Gặp những loài ác thú hổ lang

    Người rắp làm hại, khấn kêu van lại lành

    Trở ra về qua miếu thần linh

    Thần đòi khoét mắt, lòng thành tôi kính dâng

    Vậy nên mù mịt tối tăm

    Được tiên dạy hát kiếm ăn qua tháng ngày

    Sự tình này trời đất có thấu hay

    Chàng Trương Viên có biết nông nỗi này cho chăng?

    TRƯƠNG VIÊN: - Nghe tiếng đàn cùng tiếng hát

    Chuyển động tâm thần…

    THỊ PHƯƠNG (nói sử): - Tiền ông thưởng tôi còn để đó

    Tôi chẳng hề tiêu đụng một phân

    Xin ông đừng nói chuyện tần ngần

    Mà tôi mang tiếng không thanh danh tiết.

    (Lược một đoạn: Trương Viên nghe lời hát, nhận ra vợ mình, nhưng Thị Phương vì bị mù nên chưa dám nhận Trương Viên, đòi chàng phải đưa ra bằng chứng để chứng minh).

    THỊ PHƯƠNG (nói sử):

    - Nào trước khi phu phụ hợp hôn

    Những của ấy đưa ra làn chứng.

    MỤ: - Ơi này con, vợ con nói: ngày xưa quan Thừa tướng có cho cái gì làm lễ vật không, con đưa cho vợ nó xem để nó nhận.

    TRƯƠNG VIÊN: - Anh khá khen em mười tám năm nay chẳng có đơn sai

    Lòng thương em nhớ mẹ ngậm ngùi

    Đây, ngọc lưu ly giao em nhận tích.

    Thị Phương cầm ngọc, ngọc nhảy lên mắt, mắt sáng trở lại.

    THỊ PHƯƠNG: - Quả lòng trời đưa lại

    Ngọc nhảy vào, mắt được phong quang

    Mẹ ơi giờ con trông được rõ ràng

    Chồng con đây đã tỏ.

    MỤ: - Mẹ mừng con đã yên lành như cũ

    Lại thêm mẫu tử đoàn viên

    Trời có đâu nỡ phụ người hiền

    Thế mới biết bĩ rồi lại thái.

    TRƯƠNG VIÊN: - Trăm lạy mẹ

    Con vâng lệnh trên ra dẹp giặc đã yên

    Mười tám năm binh mạnh tướng bền

    Giờ được chức làm quan Thái tể

    Trời xui nên mẹ con gặp gỡ

    Mời mẹ về cho tới gia trang

    Khi đó sẽ hồi quỳnh khánh hạ

    (hát vãn trò):

    Tạo hóa xoay vần

    Hết cơn bĩ cực đến tuần thái lai

    Trời chung, trời chẳng riêng ai

    Vun trồng cây đức ắt dài nền nhân

    Hễ ai có phúc, có phần

    Giàu nghèo tại số, gian truân bởi trời

    Phương ngôn dạy đủ mọi lời.

    (Trích vở chèo Trương Viên, Hà Văn Cầu sưu tầm và chú thích,

    NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1976)

    Những chữ in nghiêng để trong dấu ngoặc đơn được gọi là gì?

    0 từ
  2. 2Tự luận · Nhận biết

    Đọc văn bản sau:

    (Tóm tắt vở kịch: Trương Viên quê đất Võ Lăng, nhờ mẹ sang hỏi cưới Thị Phương, người con gái của Tể tướng đã hồi hưu. Thấy chàng học giỏi, cha Thị Phương đồng ý và cho đôi ngọc lưu ly làm của hồi môn. Giữa lúc chàng đang dùi mài kinh sử thì được chiếu đòi đi dẹp giặc, chàng từ biệt mẹ già, vợ trẻ để ra chiến trường. Trong cảnh chạy giặc, Thị Phương đã dắt mẹ chồng lưu lạc suốt mười tám năm. Hai người bị quỷ dữ trong rừng sâu đòi ăn thịt, song may nhờ người vợ quỷ nhận làm chị em xin tha rồi cho vàng. Tiếp đó họ lại bị hổ dữ đòi ăn thịt. Thị Phương tình nguyện dâng miếng thịt nơi cánh tay để cứu mẹ chồng. Hổ tha mạng cho cả hai mẹ con. Mẹ ốm, nàng dâng đôi mắt mình để Sơn Thần làm thuốc chữa cho mẹ. Cảm động trước tấm lòng của Thị Phương, Ngọc Hoàng sai Chúa Tiên xuống dạy nàng nghề đàn hát. Thắng trận trở về, Trương Viên được phong quan. Chàng trở về quê cũ tìm mẹ già và vợ nhưng không thấy. Rồi chàng gặp hai mẹ con bà hát xẩm, bèn mời họ vào phủ để hát cho mình nghe. Qua bài trần tình, chàng đã nhận ra mẹ và vợ. Nhờ ngọc lưu ly, đôi mắt của Thị Phương sáng lại như xưa, gia đình được đoàn tụ sum vầy).

    THỊ PHƯƠNG (hát trần tình): - Trương Viên, Trương Viên

    Người chồng tôi tên gọi Trương Viên

    Vua sai dẹp giặc nước Xiêm khơi chừng

    Bởi vì đâu chếch nón ả Hằng

    Thờ chồng giữ tiết khăng khăng chẳng rời

    Bởi vì đâu binh lửa tơi bời

    Xa miền quê quán, ngụ nơi lâm tuyền

    Một mình tôi nuôi mẹ truân chuyên

    Quyết liều phận bạc chẳng dám quên nghĩa chàng

    Gặp những loài ác thú hổ lang

    Người rắp làm hại, khấn kêu van lại lành

    Trở ra về qua miếu thần linh

    Thần đòi khoét mắt, lòng thành tôi kính dâng

    Vậy nên mù mịt tối tăm

    Được tiên dạy hát kiếm ăn qua tháng ngày

    Sự tình này trời đất có thấu hay

    Chàng Trương Viên có biết nông nỗi này cho chăng?

    TRƯƠNG VIÊN: - Nghe tiếng đàn cùng tiếng hát

    Chuyển động tâm thần…

    THỊ PHƯƠNG (nói sử): - Tiền ông thưởng tôi còn để đó

    Tôi chẳng hề tiêu đụng một phân

    Xin ông đừng nói chuyện tần ngần

    Mà tôi mang tiếng không thanh danh tiết.

    (Lược một đoạn: Trương Viên nghe lời hát, nhận ra vợ mình, nhưng Thị Phương vì bị mù nên chưa dám nhận Trương Viên, đòi chàng phải đưa ra bằng chứng để chứng minh).

    THỊ PHƯƠNG (nói sử):

    - Nào trước khi phu phụ hợp hôn

    Những của ấy đưa ra làn chứng.

    MỤ: - Ơi này con, vợ con nói: ngày xưa quan Thừa tướng có cho cái gì làm lễ vật không, con đưa cho vợ nó xem để nó nhận.

    TRƯƠNG VIÊN: - Anh khá khen em mười tám năm nay chẳng có đơn sai

    Lòng thương em nhớ mẹ ngậm ngùi

    Đây, ngọc lưu ly giao em nhận tích.

    Thị Phương cầm ngọc, ngọc nhảy lên mắt, mắt sáng trở lại.

    THỊ PHƯƠNG: - Quả lòng trời đưa lại

    Ngọc nhảy vào, mắt được phong quang

    Mẹ ơi giờ con trông được rõ ràng

    Chồng con đây đã tỏ.

    MỤ: - Mẹ mừng con đã yên lành như cũ

    Lại thêm mẫu tử đoàn viên

    Trời có đâu nỡ phụ người hiền

    Thế mới biết bĩ rồi lại thái.

    TRƯƠNG VIÊN: - Trăm lạy mẹ

    Con vâng lệnh trên ra dẹp giặc đã yên

    Mười tám năm binh mạnh tướng bền

    Giờ được chức làm quan Thái tể

    Trời xui nên mẹ con gặp gỡ

    Mời mẹ về cho tới gia trang

    Khi đó sẽ hồi quỳnh khánh hạ

    (hát vãn trò):

    Tạo hóa xoay vần

    Hết cơn bĩ cực đến tuần thái lai

    Trời chung, trời chẳng riêng ai

    Vun trồng cây đức ắt dài nền nhân

    Hễ ai có phúc, có phần

    Giàu nghèo tại số, gian truân bởi trời

    Phương ngôn dạy đủ mọi lời.

    (Trích vở chèo Trương Viên, Hà Văn Cầu sưu tầm và chú thích,

    NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1976)

    Chỉ ra những nhân vật xuất hiện trong văn bản?

    0 từ
  3. 3Tự luận · Thông hiểu

    Đọc văn bản sau:

    (Tóm tắt vở kịch: Trương Viên quê đất Võ Lăng, nhờ mẹ sang hỏi cưới Thị Phương, người con gái của Tể tướng đã hồi hưu. Thấy chàng học giỏi, cha Thị Phương đồng ý và cho đôi ngọc lưu ly làm của hồi môn. Giữa lúc chàng đang dùi mài kinh sử thì được chiếu đòi đi dẹp giặc, chàng từ biệt mẹ già, vợ trẻ để ra chiến trường. Trong cảnh chạy giặc, Thị Phương đã dắt mẹ chồng lưu lạc suốt mười tám năm. Hai người bị quỷ dữ trong rừng sâu đòi ăn thịt, song may nhờ người vợ quỷ nhận làm chị em xin tha rồi cho vàng. Tiếp đó họ lại bị hổ dữ đòi ăn thịt. Thị Phương tình nguyện dâng miếng thịt nơi cánh tay để cứu mẹ chồng. Hổ tha mạng cho cả hai mẹ con. Mẹ ốm, nàng dâng đôi mắt mình để Sơn Thần làm thuốc chữa cho mẹ. Cảm động trước tấm lòng của Thị Phương, Ngọc Hoàng sai Chúa Tiên xuống dạy nàng nghề đàn hát. Thắng trận trở về, Trương Viên được phong quan. Chàng trở về quê cũ tìm mẹ già và vợ nhưng không thấy. Rồi chàng gặp hai mẹ con bà hát xẩm, bèn mời họ vào phủ để hát cho mình nghe. Qua bài trần tình, chàng đã nhận ra mẹ và vợ. Nhờ ngọc lưu ly, đôi mắt của Thị Phương sáng lại như xưa, gia đình được đoàn tụ sum vầy).

    THỊ PHƯƠNG (hát trần tình): - Trương Viên, Trương Viên

    Người chồng tôi tên gọi Trương Viên

    Vua sai dẹp giặc nước Xiêm khơi chừng

    Bởi vì đâu chếch nón ả Hằng

    Thờ chồng giữ tiết khăng khăng chẳng rời

    Bởi vì đâu binh lửa tơi bời

    Xa miền quê quán, ngụ nơi lâm tuyền

    Một mình tôi nuôi mẹ truân chuyên

    Quyết liều phận bạc chẳng dám quên nghĩa chàng

    Gặp những loài ác thú hổ lang

    Người rắp làm hại, khấn kêu van lại lành

    Trở ra về qua miếu thần linh

    Thần đòi khoét mắt, lòng thành tôi kính dâng

    Vậy nên mù mịt tối tăm

    Được tiên dạy hát kiếm ăn qua tháng ngày

    Sự tình này trời đất có thấu hay

    Chàng Trương Viên có biết nông nỗi này cho chăng?

    TRƯƠNG VIÊN: - Nghe tiếng đàn cùng tiếng hát

    Chuyển động tâm thần…

    THỊ PHƯƠNG (nói sử): - Tiền ông thưởng tôi còn để đó

    Tôi chẳng hề tiêu đụng một phân

    Xin ông đừng nói chuyện tần ngần

    Mà tôi mang tiếng không thanh danh tiết.

    (Lược một đoạn: Trương Viên nghe lời hát, nhận ra vợ mình, nhưng Thị Phương vì bị mù nên chưa dám nhận Trương Viên, đòi chàng phải đưa ra bằng chứng để chứng minh).

    THỊ PHƯƠNG (nói sử):

    - Nào trước khi phu phụ hợp hôn

    Những của ấy đưa ra làn chứng.

    MỤ: - Ơi này con, vợ con nói: ngày xưa quan Thừa tướng có cho cái gì làm lễ vật không, con đưa cho vợ nó xem để nó nhận.

    TRƯƠNG VIÊN: - Anh khá khen em mười tám năm nay chẳng có đơn sai

    Lòng thương em nhớ mẹ ngậm ngùi

    Đây, ngọc lưu ly giao em nhận tích.

    Thị Phương cầm ngọc, ngọc nhảy lên mắt, mắt sáng trở lại.

    THỊ PHƯƠNG: - Quả lòng trời đưa lại

    Ngọc nhảy vào, mắt được phong quang

    Mẹ ơi giờ con trông được rõ ràng

    Chồng con đây đã tỏ.

    MỤ: - Mẹ mừng con đã yên lành như cũ

    Lại thêm mẫu tử đoàn viên

    Trời có đâu nỡ phụ người hiền

    Thế mới biết bĩ rồi lại thái.

    TRƯƠNG VIÊN: - Trăm lạy mẹ

    Con vâng lệnh trên ra dẹp giặc đã yên

    Mười tám năm binh mạnh tướng bền

    Giờ được chức làm quan Thái tể

    Trời xui nên mẹ con gặp gỡ

    Mời mẹ về cho tới gia trang

    Khi đó sẽ hồi quỳnh khánh hạ

    (hát vãn trò):

    Tạo hóa xoay vần

    Hết cơn bĩ cực đến tuần thái lai

    Trời chung, trời chẳng riêng ai

    Vun trồng cây đức ắt dài nền nhân

    Hễ ai có phúc, có phần

    Giàu nghèo tại số, gian truân bởi trời

    Phương ngôn dạy đủ mọi lời.

    (Trích vở chèo Trương Viên, Hà Văn Cầu sưu tầm và chú thích,

    NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1976)

    Xác định chủ đề của văn bản?

    0 từ
  4. 4Tự luận · Thông hiểu

    Đọc văn bản sau:

    (Tóm tắt vở kịch: Trương Viên quê đất Võ Lăng, nhờ mẹ sang hỏi cưới Thị Phương, người con gái của Tể tướng đã hồi hưu. Thấy chàng học giỏi, cha Thị Phương đồng ý và cho đôi ngọc lưu ly làm của hồi môn. Giữa lúc chàng đang dùi mài kinh sử thì được chiếu đòi đi dẹp giặc, chàng từ biệt mẹ già, vợ trẻ để ra chiến trường. Trong cảnh chạy giặc, Thị Phương đã dắt mẹ chồng lưu lạc suốt mười tám năm. Hai người bị quỷ dữ trong rừng sâu đòi ăn thịt, song may nhờ người vợ quỷ nhận làm chị em xin tha rồi cho vàng. Tiếp đó họ lại bị hổ dữ đòi ăn thịt. Thị Phương tình nguyện dâng miếng thịt nơi cánh tay để cứu mẹ chồng. Hổ tha mạng cho cả hai mẹ con. Mẹ ốm, nàng dâng đôi mắt mình để Sơn Thần làm thuốc chữa cho mẹ. Cảm động trước tấm lòng của Thị Phương, Ngọc Hoàng sai Chúa Tiên xuống dạy nàng nghề đàn hát. Thắng trận trở về, Trương Viên được phong quan. Chàng trở về quê cũ tìm mẹ già và vợ nhưng không thấy. Rồi chàng gặp hai mẹ con bà hát xẩm, bèn mời họ vào phủ để hát cho mình nghe. Qua bài trần tình, chàng đã nhận ra mẹ và vợ. Nhờ ngọc lưu ly, đôi mắt của Thị Phương sáng lại như xưa, gia đình được đoàn tụ sum vầy).

    THỊ PHƯƠNG (hát trần tình): - Trương Viên, Trương Viên

    Người chồng tôi tên gọi Trương Viên

    Vua sai dẹp giặc nước Xiêm khơi chừng

    Bởi vì đâu chếch nón ả Hằng

    Thờ chồng giữ tiết khăng khăng chẳng rời

    Bởi vì đâu binh lửa tơi bời

    Xa miền quê quán, ngụ nơi lâm tuyền

    Một mình tôi nuôi mẹ truân chuyên

    Quyết liều phận bạc chẳng dám quên nghĩa chàng

    Gặp những loài ác thú hổ lang

    Người rắp làm hại, khấn kêu van lại lành

    Trở ra về qua miếu thần linh

    Thần đòi khoét mắt, lòng thành tôi kính dâng

    Vậy nên mù mịt tối tăm

    Được tiên dạy hát kiếm ăn qua tháng ngày

    Sự tình này trời đất có thấu hay

    Chàng Trương Viên có biết nông nỗi này cho chăng?

    TRƯƠNG VIÊN: - Nghe tiếng đàn cùng tiếng hát

    Chuyển động tâm thần…

    THỊ PHƯƠNG (nói sử): - Tiền ông thưởng tôi còn để đó

    Tôi chẳng hề tiêu đụng một phân

    Xin ông đừng nói chuyện tần ngần

    Mà tôi mang tiếng không thanh danh tiết.

    (Lược một đoạn: Trương Viên nghe lời hát, nhận ra vợ mình, nhưng Thị Phương vì bị mù nên chưa dám nhận Trương Viên, đòi chàng phải đưa ra bằng chứng để chứng minh).

    THỊ PHƯƠNG (nói sử):

    - Nào trước khi phu phụ hợp hôn

    Những của ấy đưa ra làn chứng.

    MỤ: - Ơi này con, vợ con nói: ngày xưa quan Thừa tướng có cho cái gì làm lễ vật không, con đưa cho vợ nó xem để nó nhận.

    TRƯƠNG VIÊN: - Anh khá khen em mười tám năm nay chẳng có đơn sai

    Lòng thương em nhớ mẹ ngậm ngùi

    Đây, ngọc lưu ly giao em nhận tích.

    Thị Phương cầm ngọc, ngọc nhảy lên mắt, mắt sáng trở lại.

    THỊ PHƯƠNG: - Quả lòng trời đưa lại

    Ngọc nhảy vào, mắt được phong quang

    Mẹ ơi giờ con trông được rõ ràng

    Chồng con đây đã tỏ.

    MỤ: - Mẹ mừng con đã yên lành như cũ

    Lại thêm mẫu tử đoàn viên

    Trời có đâu nỡ phụ người hiền

    Thế mới biết bĩ rồi lại thái.

    TRƯƠNG VIÊN: - Trăm lạy mẹ

    Con vâng lệnh trên ra dẹp giặc đã yên

    Mười tám năm binh mạnh tướng bền

    Giờ được chức làm quan Thái tể

    Trời xui nên mẹ con gặp gỡ

    Mời mẹ về cho tới gia trang

    Khi đó sẽ hồi quỳnh khánh hạ

    (hát vãn trò):

    Tạo hóa xoay vần

    Hết cơn bĩ cực đến tuần thái lai

    Trời chung, trời chẳng riêng ai

    Vun trồng cây đức ắt dài nền nhân

    Hễ ai có phúc, có phần

    Giàu nghèo tại số, gian truân bởi trời

    Phương ngôn dạy đủ mọi lời.

    (Trích vở chèo Trương Viên, Hà Văn Cầu sưu tầm và chú thích,

    NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1976)

    Nêu ngắn gọn cảm nhận của anh/chị về nhân vật Thị Phương?

    0 từ
  5. 5Tự luận · Vận dụng

    Đọc văn bản sau:

    (Tóm tắt vở kịch: Trương Viên quê đất Võ Lăng, nhờ mẹ sang hỏi cưới Thị Phương, người con gái của Tể tướng đã hồi hưu. Thấy chàng học giỏi, cha Thị Phương đồng ý và cho đôi ngọc lưu ly làm của hồi môn. Giữa lúc chàng đang dùi mài kinh sử thì được chiếu đòi đi dẹp giặc, chàng từ biệt mẹ già, vợ trẻ để ra chiến trường. Trong cảnh chạy giặc, Thị Phương đã dắt mẹ chồng lưu lạc suốt mười tám năm. Hai người bị quỷ dữ trong rừng sâu đòi ăn thịt, song may nhờ người vợ quỷ nhận làm chị em xin tha rồi cho vàng. Tiếp đó họ lại bị hổ dữ đòi ăn thịt. Thị Phương tình nguyện dâng miếng thịt nơi cánh tay để cứu mẹ chồng. Hổ tha mạng cho cả hai mẹ con. Mẹ ốm, nàng dâng đôi mắt mình để Sơn Thần làm thuốc chữa cho mẹ. Cảm động trước tấm lòng của Thị Phương, Ngọc Hoàng sai Chúa Tiên xuống dạy nàng nghề đàn hát. Thắng trận trở về, Trương Viên được phong quan. Chàng trở về quê cũ tìm mẹ già và vợ nhưng không thấy. Rồi chàng gặp hai mẹ con bà hát xẩm, bèn mời họ vào phủ để hát cho mình nghe. Qua bài trần tình, chàng đã nhận ra mẹ và vợ. Nhờ ngọc lưu ly, đôi mắt của Thị Phương sáng lại như xưa, gia đình được đoàn tụ sum vầy).

    THỊ PHƯƠNG (hát trần tình): - Trương Viên, Trương Viên

    Người chồng tôi tên gọi Trương Viên

    Vua sai dẹp giặc nước Xiêm khơi chừng

    Bởi vì đâu chếch nón ả Hằng

    Thờ chồng giữ tiết khăng khăng chẳng rời

    Bởi vì đâu binh lửa tơi bời

    Xa miền quê quán, ngụ nơi lâm tuyền

    Một mình tôi nuôi mẹ truân chuyên

    Quyết liều phận bạc chẳng dám quên nghĩa chàng

    Gặp những loài ác thú hổ lang

    Người rắp làm hại, khấn kêu van lại lành

    Trở ra về qua miếu thần linh

    Thần đòi khoét mắt, lòng thành tôi kính dâng

    Vậy nên mù mịt tối tăm

    Được tiên dạy hát kiếm ăn qua tháng ngày

    Sự tình này trời đất có thấu hay

    Chàng Trương Viên có biết nông nỗi này cho chăng?

    TRƯƠNG VIÊN: - Nghe tiếng đàn cùng tiếng hát

    Chuyển động tâm thần…

    THỊ PHƯƠNG (nói sử): - Tiền ông thưởng tôi còn để đó

    Tôi chẳng hề tiêu đụng một phân

    Xin ông đừng nói chuyện tần ngần

    Mà tôi mang tiếng không thanh danh tiết.

    (Lược một đoạn: Trương Viên nghe lời hát, nhận ra vợ mình, nhưng Thị Phương vì bị mù nên chưa dám nhận Trương Viên, đòi chàng phải đưa ra bằng chứng để chứng minh).

    THỊ PHƯƠNG (nói sử):

    - Nào trước khi phu phụ hợp hôn

    Những của ấy đưa ra làn chứng.

    MỤ: - Ơi này con, vợ con nói: ngày xưa quan Thừa tướng có cho cái gì làm lễ vật không, con đưa cho vợ nó xem để nó nhận.

    TRƯƠNG VIÊN: - Anh khá khen em mười tám năm nay chẳng có đơn sai

    Lòng thương em nhớ mẹ ngậm ngùi

    Đây, ngọc lưu ly giao em nhận tích.

    Thị Phương cầm ngọc, ngọc nhảy lên mắt, mắt sáng trở lại.

    THỊ PHƯƠNG: - Quả lòng trời đưa lại

    Ngọc nhảy vào, mắt được phong quang

    Mẹ ơi giờ con trông được rõ ràng

    Chồng con đây đã tỏ.

    MỤ: - Mẹ mừng con đã yên lành như cũ

    Lại thêm mẫu tử đoàn viên

    Trời có đâu nỡ phụ người hiền

    Thế mới biết bĩ rồi lại thái.

    TRƯƠNG VIÊN: - Trăm lạy mẹ

    Con vâng lệnh trên ra dẹp giặc đã yên

    Mười tám năm binh mạnh tướng bền

    Giờ được chức làm quan Thái tể

    Trời xui nên mẹ con gặp gỡ

    Mời mẹ về cho tới gia trang

    Khi đó sẽ hồi quỳnh khánh hạ

    (hát vãn trò):

    Tạo hóa xoay vần

    Hết cơn bĩ cực đến tuần thái lai

    Trời chung, trời chẳng riêng ai

    Vun trồng cây đức ắt dài nền nhân

    Hễ ai có phúc, có phần

    Giàu nghèo tại số, gian truân bởi trời

    Phương ngôn dạy đủ mọi lời.

    (Trích vở chèo Trương Viên, Hà Văn Cầu sưu tầm và chú thích,

    NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1976)

    Thông điệp nào từ đoạn trích có ý nghĩa nhất đối với anh/chị? Lí giải vì sao?

    0 từ
  6. 6Tự luận · Vận dụng

    Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nghệ thuật sử dụng hình ảnh trong bài thơ sau:

    Nõn nà sương ngọc quanh thềm đậu;

    Nắng nhỏ bâng khuâng chiều lỡ thì.

    Hư vô bóng khói trên đầu hạnh;

    Cành biếc run run chân ý nhi.

    Gió thầm, mây lặng, dáng thu xa,

    Mới tạnh mưa trưa, chiều đã tà.

    Buồn ở sông xanh nghe đã lại,

    Mơ hồ trong một tiếng chim qua.

    Bên cửa ngừng kim thêu bức gấm,

    Hây hây thục nữ mắt như thuyền.

    Gió thu hoa cúc vàng lưng giậu,

    Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên.

    (Thu,Xuân Diệu, in trong tập Gửi hương cho gió, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 1992)

    0 từ
  7. 7Tự luận · Vận dụng

    Viết bài văn nghị luận xã hội (khoảng 600 chữ) giúp người khác thay đổi thói quen suy nghĩ tiêu cực.

    0 từ
Tất cả đề thi & luyện tập