Grade

Đề thi tham khảo giữa học kì 2 Văn 10 - Đề số 1

7 câu hỏi ngữ văn lớp 10, bám cấu trúc đề giữa học kì 2. Chấm ngay khi nộp trên thang điểm 10, xem được đáp án từng câu sau đó.

Ngữ vănLớp 10Luyện tập7 câu90 phútQuản trị viên
Bắt đầu làm bàiTải đề PDFMiễn phí · chấm tự động ngay khi nộp
Chia sẻ

Toàn bộ câu hỏi của đề. Đáp án và lời giải hiện sau khi bạn làm bài.

  1. 1Tự luận · Nhận biết

    Đọc văn bản sau:

    Ngôn chí (Bài 8)

    Túi thơ bầu rượu quản xênh xang,
    Quẩy dụng đầm hâm[1] mấy dặm đường.
    Đài Tử Lăng[2] cao, thu mát,
    Bè Trương Khiên[3] nhẹ, khách sang.

    Tằm ươm lúc nhúc, thuyền đầu bãi,
    Hàu[4] chất so le, khóm cuối làng.
    Ngâm sách[5]thằng chài trong thuở ấy,
    Tiếng trào[6] dậy khắp Thương Lang[7].

    (Tổng tập văn học Việt Nam, tập 4, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr.81)

    [1] Quẩy dụng đầm hâm: quẩy hoặc quây tức là ngoắc vào cái cán tre hoặc gỗ rồi vác lên vai, dụng là đưa xuống dùng, đầm hâm là tỏ ý vui vẻ, hồn nhiên

    [2] Đài Tử Lăng: Tử Lăng tên tự của Nghiêm Quang,bạn học thuở trẻ của Lưu Tú (Hán Quang Vũ). Khi Quang Vũ lên ngôi vua, Nghiêm Quang về ở ẩn, cày ruộng ở miền núi Phú Xuân, trên một mỏn đá. Nơi đó, đời sau gọi là Đài Tử Lăng

    [3] Bè Trương Khiên: Trương Khiêm là một nhà thám hiểm nổi tiếng thời Hán Vũ Đế, từng chu du nhiều nước Trung Á. Nói bè Trương Khiêm là nói đến cuộc đời phiêu bạt của Trương Khiêm

    [4] Hàu: cũng gọi là sò (sò hến)

    [5] Sách: nghĩa đen là cái dây, tức là cái dây te lưới người đi chài, nghĩa bóng là quyển sách, hoặc sách lược…Ở đây Nguyễn Trãi chỉ nói thằng chài bình thường, nhưng suy rộng ra thì Tử Lăng cũng là một kiểu thằng chài, một kiểu Ngư phủ trong bài đồng dao Thương Lang

    [6] Tiếng trào: trào lộng, chế giễu

    [7] Thương Lang: là biệt danh một con sông ở Sơn Đông, nơi Khổng Tử thường hay tắm giặt

    Xác định thể thơ của văn bản

    0 từ
  2. 2Tự luận · Nhận biết

    Đọc văn bản sau:

    Ngôn chí (Bài 8)

    Túi thơ bầu rượu quản xênh xang,
    Quẩy dụng đầm hâm[1] mấy dặm đường.
    Đài Tử Lăng[2] cao, thu mát,
    Bè Trương Khiên[3] nhẹ, khách sang.

    Tằm ươm lúc nhúc, thuyền đầu bãi,
    Hàu[4] chất so le, khóm cuối làng.
    Ngâm sách[5]thằng chài trong thuở ấy,
    Tiếng trào[6] dậy khắp Thương Lang[7].

    (Tổng tập văn học Việt Nam, tập 4, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr.81)

    [1] Quẩy dụng đầm hâm: quẩy hoặc quây tức là ngoắc vào cái cán tre hoặc gỗ rồi vác lên vai, dụng là đưa xuống dùng, đầm hâm là tỏ ý vui vẻ, hồn nhiên

    [2] Đài Tử Lăng: Tử Lăng tên tự của Nghiêm Quang,bạn học thuở trẻ của Lưu Tú (Hán Quang Vũ). Khi Quang Vũ lên ngôi vua, Nghiêm Quang về ở ẩn, cày ruộng ở miền núi Phú Xuân, trên một mỏn đá. Nơi đó, đời sau gọi là Đài Tử Lăng

    [3] Bè Trương Khiên: Trương Khiêm là một nhà thám hiểm nổi tiếng thời Hán Vũ Đế, từng chu du nhiều nước Trung Á. Nói bè Trương Khiêm là nói đến cuộc đời phiêu bạt của Trương Khiêm

    [4] Hàu: cũng gọi là sò (sò hến)

    [5] Sách: nghĩa đen là cái dây, tức là cái dây te lưới người đi chài, nghĩa bóng là quyển sách, hoặc sách lược…Ở đây Nguyễn Trãi chỉ nói thằng chài bình thường, nhưng suy rộng ra thì Tử Lăng cũng là một kiểu thằng chài, một kiểu Ngư phủ trong bài đồng dao Thương Lang

    [6] Tiếng trào: trào lộng, chế giễu

    [7] Thương Lang: là biệt danh một con sông ở Sơn Đông, nơi Khổng Tử thường hay tắm giặt

    Chỉ ra những câu thơ thể hiện cảnh sinh hoạt của người dân làng chài.

    0 từ
  3. 3Tự luận · Thông hiểu

    Đọc văn bản sau:

    Ngôn chí (Bài 8)

    Túi thơ bầu rượu quản xênh xang,
    Quẩy dụng đầm hâm[1] mấy dặm đường.
    Đài Tử Lăng[2] cao, thu mát,
    Bè Trương Khiên[3] nhẹ, khách sang.

    Tằm ươm lúc nhúc, thuyền đầu bãi,
    Hàu[4] chất so le, khóm cuối làng.
    Ngâm sách[5]thằng chài trong thuở ấy,
    Tiếng trào[6] dậy khắp Thương Lang[7].

    (Tổng tập văn học Việt Nam, tập 4, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr.81)

    [1] Quẩy dụng đầm hâm: quẩy hoặc quây tức là ngoắc vào cái cán tre hoặc gỗ rồi vác lên vai, dụng là đưa xuống dùng, đầm hâm là tỏ ý vui vẻ, hồn nhiên

    [2] Đài Tử Lăng: Tử Lăng tên tự của Nghiêm Quang,bạn học thuở trẻ của Lưu Tú (Hán Quang Vũ). Khi Quang Vũ lên ngôi vua, Nghiêm Quang về ở ẩn, cày ruộng ở miền núi Phú Xuân, trên một mỏn đá. Nơi đó, đời sau gọi là Đài Tử Lăng

    [3] Bè Trương Khiên: Trương Khiêm là một nhà thám hiểm nổi tiếng thời Hán Vũ Đế, từng chu du nhiều nước Trung Á. Nói bè Trương Khiêm là nói đến cuộc đời phiêu bạt của Trương Khiêm

    [4] Hàu: cũng gọi là sò (sò hến)

    [5] Sách: nghĩa đen là cái dây, tức là cái dây te lưới người đi chài, nghĩa bóng là quyển sách, hoặc sách lược…Ở đây Nguyễn Trãi chỉ nói thằng chài bình thường, nhưng suy rộng ra thì Tử Lăng cũng là một kiểu thằng chài, một kiểu Ngư phủ trong bài đồng dao Thương Lang

    [6] Tiếng trào: trào lộng, chế giễu

    [7] Thương Lang: là biệt danh một con sông ở Sơn Đông, nơi Khổng Tử thường hay tắm giặt

    Phân tích hiệu quả của phép đối được sử dụng trong hai câu:
    “Tằm ươm lúc nhúc, thuyền đầu bãi

    Hàu chất so le, khóm cuối làng.”

    0 từ
  4. 4Tự luận · Thông hiểu

    Đọc văn bản sau:

    Ngôn chí (Bài 8)

    Túi thơ bầu rượu quản xênh xang,
    Quẩy dụng đầm hâm[1] mấy dặm đường.
    Đài Tử Lăng[2] cao, thu mát,
    Bè Trương Khiên[3] nhẹ, khách sang.

    Tằm ươm lúc nhúc, thuyền đầu bãi,
    Hàu[4] chất so le, khóm cuối làng.
    Ngâm sách[5]thằng chài trong thuở ấy,
    Tiếng trào[6] dậy khắp Thương Lang[7].

    (Tổng tập văn học Việt Nam, tập 4, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr.81)

    [1] Quẩy dụng đầm hâm: quẩy hoặc quây tức là ngoắc vào cái cán tre hoặc gỗ rồi vác lên vai, dụng là đưa xuống dùng, đầm hâm là tỏ ý vui vẻ, hồn nhiên

    [2] Đài Tử Lăng: Tử Lăng tên tự của Nghiêm Quang,bạn học thuở trẻ của Lưu Tú (Hán Quang Vũ). Khi Quang Vũ lên ngôi vua, Nghiêm Quang về ở ẩn, cày ruộng ở miền núi Phú Xuân, trên một mỏn đá. Nơi đó, đời sau gọi là Đài Tử Lăng

    [3] Bè Trương Khiên: Trương Khiêm là một nhà thám hiểm nổi tiếng thời Hán Vũ Đế, từng chu du nhiều nước Trung Á. Nói bè Trương Khiêm là nói đến cuộc đời phiêu bạt của Trương Khiêm

    [4] Hàu: cũng gọi là sò (sò hến)

    [5] Sách: nghĩa đen là cái dây, tức là cái dây te lưới người đi chài, nghĩa bóng là quyển sách, hoặc sách lược…Ở đây Nguyễn Trãi chỉ nói thằng chài bình thường, nhưng suy rộng ra thì Tử Lăng cũng là một kiểu thằng chài, một kiểu Ngư phủ trong bài đồng dao Thương Lang

    [6] Tiếng trào: trào lộng, chế giễu

    [7] Thương Lang: là biệt danh một con sông ở Sơn Đông, nơi Khổng Tử thường hay tắm giặt

    Nêu nội dung của 2 câu thơ sau:

    “Ngâm sách thằng chài trong thuở ấy,

    Tiếng trào dậy khắp Thương Lang.”

    0 từ
  5. 5Tự luận · Vận dụng

    Đọc văn bản sau:

    Ngôn chí (Bài 8)

    Túi thơ bầu rượu quản xênh xang,
    Quẩy dụng đầm hâm[1] mấy dặm đường.
    Đài Tử Lăng[2] cao, thu mát,
    Bè Trương Khiên[3] nhẹ, khách sang.

    Tằm ươm lúc nhúc, thuyền đầu bãi,
    Hàu[4] chất so le, khóm cuối làng.
    Ngâm sách[5]thằng chài trong thuở ấy,
    Tiếng trào[6] dậy khắp Thương Lang[7].

    (Tổng tập văn học Việt Nam, tập 4, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr.81)

    [1] Quẩy dụng đầm hâm: quẩy hoặc quây tức là ngoắc vào cái cán tre hoặc gỗ rồi vác lên vai, dụng là đưa xuống dùng, đầm hâm là tỏ ý vui vẻ, hồn nhiên

    [2] Đài Tử Lăng: Tử Lăng tên tự của Nghiêm Quang,bạn học thuở trẻ của Lưu Tú (Hán Quang Vũ). Khi Quang Vũ lên ngôi vua, Nghiêm Quang về ở ẩn, cày ruộng ở miền núi Phú Xuân, trên một mỏn đá. Nơi đó, đời sau gọi là Đài Tử Lăng

    [3] Bè Trương Khiên: Trương Khiêm là một nhà thám hiểm nổi tiếng thời Hán Vũ Đế, từng chu du nhiều nước Trung Á. Nói bè Trương Khiêm là nói đến cuộc đời phiêu bạt của Trương Khiêm

    [4] Hàu: cũng gọi là sò (sò hến)

    [5] Sách: nghĩa đen là cái dây, tức là cái dây te lưới người đi chài, nghĩa bóng là quyển sách, hoặc sách lược…Ở đây Nguyễn Trãi chỉ nói thằng chài bình thường, nhưng suy rộng ra thì Tử Lăng cũng là một kiểu thằng chài, một kiểu Ngư phủ trong bài đồng dao Thương Lang

    [6] Tiếng trào: trào lộng, chế giễu

    [7] Thương Lang: là biệt danh một con sông ở Sơn Đông, nơi Khổng Tử thường hay tắm giặt

    Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp con người trong bài thơ trên (viết đoạn văn 5-7 dòng)

    0 từ
  6. 6Tự luận · Vận dụng

    Anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận về vẻ đẹp con người lao động và thiên nhiên trong bài thơ phần Đọc – hiểu

    0 từ
  7. 7Tự luận · Vận dụng

    Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày trình bày suy nghĩ của mình về ý nghĩa của những mục tiêu trong cuộc sống.

    0 từ
Tất cả đề thi & luyện tập