Trong hộp thoại in, chọn Lưu thành PDF ở mục Máy in.
Đề thi thử giữa học kì 1 Văn 10 - Đề số 3
Ngữ văn
Đọc văn bản sau:
THU VỊNH
(Nguyễn Khuyến)[1]
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào [2].
(Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 1971)
* Chú thích:
[1] Nhà thơ Nguyễn Khuyến (1835-1909) sinh tại làng Yên Đổ, Hà Nam. Ông xuất thân trong gia đình Nho học, ba lần đỗ đầu các kì thi lớn nên được mệnh danh “Tam nguyên Yên Đổ”. Nguyễn Khuyến từng giữ nhiều chức vụ quan trọng nhưng chân ghét cảnh triều Nguyễn thối nát, khi Pháp xâm lược, ông cáo quan về ở ẩn, dạy học và sáng tác. Bài thơ “Thu vịnh” được Nguyễn Khuyến viết khi ông vẫn đang làm quan.
[2] Ông Đào chỉ Đào Tiềm (365 - 427) còn gọi là Đào Uyên Minh, người đất Tầm Dương, Cửu Giang, tỉnh GiangTây, Trung Quốc. Từ năm 29 đến năm 41 tuổi, nhiều lần Đào Uyên Mình ra làm quan và cũng nhiều lần xin từ chức. Đến năm 405, ông chính thức tuyên bố rút về ở hẳn với điền viên vì chân ghét cảnh quan trường thối nát, Ông từ quan một cách dứt khoát, không e ngại trước danh vọng, quyền lực.
Văn bản trên thuộc thể thơ nào?
Đọc văn bản sau:
THU VỊNH
(Nguyễn Khuyến)[1]
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào [2].
(Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 1971)
* Chú thích:
[1] Nhà thơ Nguyễn Khuyến (1835-1909) sinh tại làng Yên Đổ, Hà Nam. Ông xuất thân trong gia đình Nho học, ba lần đỗ đầu các kì thi lớn nên được mệnh danh “Tam nguyên Yên Đổ”. Nguyễn Khuyến từng giữ nhiều chức vụ quan trọng nhưng chân ghét cảnh triều Nguyễn thối nát, khi Pháp xâm lược, ông cáo quan về ở ẩn, dạy học và sáng tác. Bài thơ “Thu vịnh” được Nguyễn Khuyến viết khi ông vẫn đang làm quan.
[2] Ông Đào chỉ Đào Tiềm (365 - 427) còn gọi là Đào Uyên Minh, người đất Tầm Dương, Cửu Giang, tỉnh GiangTây, Trung Quốc. Từ năm 29 đến năm 41 tuổi, nhiều lần Đào Uyên Mình ra làm quan và cũng nhiều lần xin từ chức. Đến năm 405, ông chính thức tuyên bố rút về ở hẳn với điền viên vì chân ghét cảnh quan trường thối nát, Ông từ quan một cách dứt khoát, không e ngại trước danh vọng, quyền lực.
Những hình ảnh thiên nhiên nào được tác giả sử dụng để khắc hoạ cảnh mùa thu trong bốn câu thơ đầu của bài thơ.
Đọc văn bản sau:
THU VỊNH
(Nguyễn Khuyến)[1]
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào [2].
(Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 1971)
* Chú thích:
[1] Nhà thơ Nguyễn Khuyến (1835-1909) sinh tại làng Yên Đổ, Hà Nam. Ông xuất thân trong gia đình Nho học, ba lần đỗ đầu các kì thi lớn nên được mệnh danh “Tam nguyên Yên Đổ”. Nguyễn Khuyến từng giữ nhiều chức vụ quan trọng nhưng chân ghét cảnh triều Nguyễn thối nát, khi Pháp xâm lược, ông cáo quan về ở ẩn, dạy học và sáng tác. Bài thơ “Thu vịnh” được Nguyễn Khuyến viết khi ông vẫn đang làm quan.
[2] Ông Đào chỉ Đào Tiềm (365 - 427) còn gọi là Đào Uyên Minh, người đất Tầm Dương, Cửu Giang, tỉnh GiangTây, Trung Quốc. Từ năm 29 đến năm 41 tuổi, nhiều lần Đào Uyên Mình ra làm quan và cũng nhiều lần xin từ chức. Đến năm 405, ông chính thức tuyên bố rút về ở hẳn với điền viên vì chân ghét cảnh quan trường thối nát, Ông từ quan một cách dứt khoát, không e ngại trước danh vọng, quyền lực.
Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong hai câu thực:
Nước biếc trông như tầng khói phủ.
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Đọc văn bản sau:
THU VỊNH
(Nguyễn Khuyến)[1]
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào [2].
(Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 1971)
* Chú thích:
[1] Nhà thơ Nguyễn Khuyến (1835-1909) sinh tại làng Yên Đổ, Hà Nam. Ông xuất thân trong gia đình Nho học, ba lần đỗ đầu các kì thi lớn nên được mệnh danh “Tam nguyên Yên Đổ”. Nguyễn Khuyến từng giữ nhiều chức vụ quan trọng nhưng chân ghét cảnh triều Nguyễn thối nát, khi Pháp xâm lược, ông cáo quan về ở ẩn, dạy học và sáng tác. Bài thơ “Thu vịnh” được Nguyễn Khuyến viết khi ông vẫn đang làm quan.
[2] Ông Đào chỉ Đào Tiềm (365 - 427) còn gọi là Đào Uyên Minh, người đất Tầm Dương, Cửu Giang, tỉnh GiangTây, Trung Quốc. Từ năm 29 đến năm 41 tuổi, nhiều lần Đào Uyên Mình ra làm quan và cũng nhiều lần xin từ chức. Đến năm 405, ông chính thức tuyên bố rút về ở hẳn với điền viên vì chân ghét cảnh quan trường thối nát, Ông từ quan một cách dứt khoát, không e ngại trước danh vọng, quyền lực.
Anh/chị hiểu như thế nào về nỗi thẹn của tác giả thể hiện ở hai câu thơ cuối của bài thơ? Nỗi thẹn đó cho thấy Nguyễn Khuyến là người như thế nào?
Đọc văn bản sau:
THU VỊNH
(Nguyễn Khuyến)[1]
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào [2].
(Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 1971)
* Chú thích:
[1] Nhà thơ Nguyễn Khuyến (1835-1909) sinh tại làng Yên Đổ, Hà Nam. Ông xuất thân trong gia đình Nho học, ba lần đỗ đầu các kì thi lớn nên được mệnh danh “Tam nguyên Yên Đổ”. Nguyễn Khuyến từng giữ nhiều chức vụ quan trọng nhưng chân ghét cảnh triều Nguyễn thối nát, khi Pháp xâm lược, ông cáo quan về ở ẩn, dạy học và sáng tác. Bài thơ “Thu vịnh” được Nguyễn Khuyến viết khi ông vẫn đang làm quan.
[2] Ông Đào chỉ Đào Tiềm (365 - 427) còn gọi là Đào Uyên Minh, người đất Tầm Dương, Cửu Giang, tỉnh GiangTây, Trung Quốc. Từ năm 29 đến năm 41 tuổi, nhiều lần Đào Uyên Mình ra làm quan và cũng nhiều lần xin từ chức. Đến năm 405, ông chính thức tuyên bố rút về ở hẳn với điền viên vì chân ghét cảnh quan trường thối nát, Ông từ quan một cách dứt khoát, không e ngại trước danh vọng, quyền lực.
Qua bài thơ anh/chị rút ra được những bài học gì cho bản thân trong cách ứng xử với thiên nhiên và cách ứng xử với cuộc đời.
Anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200) chữ phân tích những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của bốn câu thơ cuối bài thơ “Thu vịnh” (Nguyễn Khuyến).
Viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết của thái độ sống tích cực đối với mỗi người.
Xem đáp án và làm bài trực tuyến tại grade.vn/de-thi/de-thi-thu-giua-hoc-ki-1-van-10-de-so-3-7317